Chế Độ:  
 - Đăng Nhập  
 
   Nhân vật và Sự kiện    
Trận Đánh Chống Càn Hóc Ron của Đại đội BB 210 Tỉnh Ninh Thuận (Từ 28 – 29/09/1953)
Ngày đăng: 05/03/2014
Đầu năm 1952, để cứu vãn tình hình suy sụp của quân đội Viễn chinh Pháp, trong các vùng tạm chiếm ở miền Trung và miền Nam, địch tiếp tục đánh phá mạnh các khu du kích và căn cứ Cách mạng. Cuối năm 1952 và những tháng đầu năm 1953 nhiều trận càn quét vào các khu dân sinh. Khu căn cứ cách mạng đều bị thất bại. Để thử nghiệm vai trò, khả năng của quân chủ lực Ngụy, chúng sử dụng tiểu đoàn “Ngự lâm Bảo Đại” tổ chức càn quét vào khu căn cứ Hóc Ron (CK22).

 I. Tình hình chung:

1. Địa hình:

Căn cứ Hóc Ron nằm trong chiến khu 22, (nay là xã Phước Trung, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận), cách quốc lộ 11 khoảng 10km về hướng Tây Nam, đồng thời cách quốc lộ 1 khoảng 10 km về hướng Đông. Xung quanh căn cứ có núi rừng hiểm trở bao bọc, giữa có sông Cho Mo chảy từ hướng Đông sang Tây, một nhánh chảy về hướng Nam cung cấp nước quanh năm cho thung lũng giửa căn cứ, thuận lợi việc sản xuất lúa 2 vụ/năm để giải quyết lương thực cho lực lượng trong khu căn cứ. Thung lũng có một mõm núi chắn ngang chia thành 2 khu vực ruộng trên và ruộng dưới. Đường cơ động trong căn cứ chủ yếu là đường mòn, độc đáo; có trục đường mòn chính chạy theo hướng Đông Nam – Tây Bắc nối liền với các xã đồng bằng và quốc lộ 1 về căn cứ thông với quốc lộ 11, nhưng khó có thể cơ động bằng cơ giới.

Căn cứ Hóc Ron có vị trí quan trọng đối với chiến khu 22 nói riêng và cả vùng Thuận Bắc, Bác Ái nói chung từ đây các lực lượng vũ trang của ta có thể nhanh chóng cơ động, tiếp cận các mục tiêu của địch ở vùng đồng bằng, thị xã; đồng thời thuận lợi cho công tác xây dựng cơ sở Cách mạng ở các vùng ven, làm bàn đạp tiến công địch. Đây cũng là mục tiêu địch luôn tìm cách đánh phá, nhằm bảo đảm an ninh trên hướng Bắc Phan Rang – Tháp Chàm, cũng như đối với trục Quốc lộ 1 và 11.

2. Tình hình địch:

Thực hiện cuộc càn quét, địch sử dụng tiểu đoàn “Ngự lâm quân Bảo Đại” ở Đà Lạt xuống Ninh Thuận để tấn công vào Hóc Ron: Tiểu đoàn này được biên chế đầy đủ vũ khí, trang bị; đồng thời được huấn luyện bài bản theo chương trình chính quy của Quân đội Pháp.

Mục đích càn quét vào căn cứ Hóc Ron của địch một mặt nhằm tiêu diệt một bộ phận lực lượng vũ trang của ta, xóa bỏ căn cứ kháng chiến của Cách mạng, lùa nhân dân ở vùng tự do về các khu tập trung để dễ kiểm soát. Đồng thời mặt khác, cũng để nhằm thử nghiệm vai trò và khả năng chiến đấu của quân chủ lực Ngụy.

3. Tình hình ta:

Đại đội 210, bộ đội địa phương của tỉnh với quân số 60 đồng chí, được biên chế thành 2 trung đội; vũ khí tương đối đầy đủ, trong đó có 2 tổ súng máy, mỗi tổ 3 đồng chí.

Quân số tuy ít nhưng chất lượng khá tốt vì đã được thử thách nhiều trong chiến đấu. Cán bộ chỉ huy từ tiểu đội đến đại đội đều có kinh nghiệm và giỏi trong cách đánh tập kích, phục kích, đánh nhỏ lẻ; cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đều khá thông thuộc địa hình khu căn cứ. Tuy nhiên, đơn vị cũng có những khó khăn nhất định về bảo đảm trang bị.

Nhân dân trong căn cứ Hóc Ron đều là đồng bào Rắc lay, một lòng theo cách mạng, luôn ủng hộ và sát cánh cùng bộ đội ta đánh giặc.

II. Tổ chức chuẩn bị chiến đấu:

1. Nhiệm vụ cấp trên giao:

Đại đội 210 được giao nhiệm vụ tổ chức ngăn chặn, đánh tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận tiểu đoàn “Ngự lâm quân” địch, phá vỡ kế hoạch càn quét của chúng, bảo vệ khu dân sinh, khu căn cứ và khu vực sản xuất lương thực của t a.

Sau khi nhận và hiểu rõ nhiệm vụ trên giao. Ban chỉ huy đại đội đã quán triệt nhiệm vụ cho đơn vị và bàn kế hoạch tác chiến cụ thể.

2. Quyết tâm chiến đấu:

Căn cứ địa hình và dự kiến âm mưu, thủ đoạn của địch khi tổ chức càn quét vào căn cứ Hóc Ron, Ban chỉ huy Đại đội xác định ý định chiến đấu như sau:

+ Ý định chiến đấu:

Hướng chặn đánh địch thứ nhất: Từ sông Chó Mo xuống vùng ruộng trên.

Hướng chặn đánh địch thứ hai:  Từ suối Ngang lên vùng ruộng dưới.

+ Tư tưởng chỉ đạo:

Kiên quyết ngăn chặn đồng thời bám đánh địch liên tục trên mọi địa hình, xé nhỏ từng bộ phận của địch để tiêu hao, tiêu diệt.

+ Cách đánh:

Lợi dụng địa hình, địa vật, bí mật bố trí lực lượng chốt chặn ở hai đầu trên trục đường vào căn cứ. Kiên quyết ngăn chặn không cho địch vượt qua. Khi địch vượt qua, liên tục bám địch, vận dụng linh hoạt các cách đánh tập kích, phục kích, vận động tập kích, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, không cho địch liên kết giữa các hướng. Kịp thời tập trung lực lượng đánh bại địch co cụm hoặc rút chạy.

+ Sử dụng lực lượng, bố trí đội hình và nhiệm vụ các đơn vị:

Trung đội 1 bố trí từ láng Te te đến suối Ngang, có nhiệm vụ chặn đánh địch trên hướng Nam từ An Xuân lên.

Trung đội 2 bố trí tại sườn đồi phía Tây Bắc ruộng Trên, có nhiệm vụ chặn đánh địch từ hướng sông Chó Mo tiến vào sau lưng căn cứ.

Bộ phận hỏa lực gồm 2 tổ súng máy, sẳn sàng chi viện trực tiếp trên mỗi hướng.

+ Hiệp đồng bảo đảm:

Đúng 04 giờ ngày 28/09, các bộ phận chiếm lĩnh vị trí chiến đấu và xây dựng công sự, trận địa xong, sẳn sàng nổ súng đánh địch.

Liên lạc giữa các bộ phận với nhau bằng tiếng súng. Khi cần thiết và có điều kiện mới cho liên lạc bộ.

Mật khẩu, ám tín hiệu sau 1 ngày đêm, phải thay đổi (tính từ 01 giờ đến 24 giờ trong ngày)

+ Tổ chức chỉ huy:

Ban chỉ huy đại đội ở Tây Nam điểm cao 224. Phân công đồng chí Chính trị viên và đồng chí Đại đội phó ở vị trí chỉ huy thường xuyên, đồng chí Đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy thường xuyên, đồng chí Đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy tác chiến đi cùng trong đội hình Trung đội 1.

III. Diễn biến chiến đấu, kết quả, ý nghĩa:

* Ngày thứ nhất :

+ Hướng sông Chó Mo:

Theo đúng dự kiến của ta, khoảng 5 giờ sáng ngày 28/09, tiểu đoàn Ngự lâm quân của địch tiến quân theo trục đường mòn từ hướng sông Chó Mo vào hướng Tây vùng ruộng Trên lực lượng khoảng 1 tiểu đoàn thiếu; do địa hình rừng núi rậm rạp nên không phát hiện được lực lượng ta. Khi chúng lọt vào đội hình phục kích của trung đội 2, được lệnh, đơn vị đồng loạt nổ súng bắn vào đội hình địch.

Bị phục kích bất ngờ, địch rối loạn đội hình, một số tên bị ta tiêu diệt ngay từ đầu, nhưng chúng đã nhanh chóng ổn định lại lực lượng, dùng hỏa lực bắn mạnh vào khu vực của ta. Thực hiện phương châm chỉ đạo, Trung đội 2 nhanh chóng phân tán nhỏ thành từng tổ, lợi dụng địa hình, địa vật bám đánh địch, làm cho chúng lúng túng đối phó, không phát triển được.

Đến 17 giờ cùng ngày, do bị tổn thất, thương vong và đói khát, chúng chuyển hướng cắt đường rừng theo sườn Đông núi Rài về hướng ruộng Dưới để tìm cách bắt liên lạc với cánh quân ở suối Ngang.

+ Hướng suối Ngang:

Cũng cùng thời gian trên, địch từ hướng An Xuân cơ động theo trục đường mòn vào vùng ruộng Dước của ta, nhưng đến cách trận địa phục kích của Trung đội 1 khoảng 500mét chúng dừng lại, không tổ chức tiến quân tiếp. Trung đội 1 vẫn kiên nhẫn chờ đợi địch cơ động lên để tổ chức đánh.

Đến 17 giờ, địch từ hướng Suối Ngang vẫn án binh bất động. Trước tình hình đó, đồng chí Đại đội trưởng đi cùng đội hình Trung đội ra lệnh cho đơn vị cơ động lên ruộng Trên chi viện cho Trung đội 2, chỉ để lại 1 tổ cảnh giới địch ở Suối Ngang.

Theo mệnh lệnh, Trung đội 1 vận động lên hướng sông Chó Mo, đến nửa đường thì phát hiện lực đơn vị nhanh chóng chủ động triển khai đội hình nổ súng trước; địch bị bất ngờ bỏ chạy tán loạn; sau đó co cụm về phía Nam đồi 204 làm công sự đã chiến để ngăn chặn ta tiến công. Thời gian lúc này gần tối, lại có mưa nhỏ nên Trung đội 1 dừng truy kích, bố trí lực lượng cách địch khoảng 100 mét để theo dõi tình hình.

Đến 22 giờ, Trung đội 1 tổ chức tập kích vào khu vực địch trú quân, chúng bắn trả rất ít; do đêm tối ta không xác định rõ được mục tiêu nên Trung đội 1 rút về lại phía sau, ổn định lực lượng chuẩn bị cho cuộc chiến đấu ngày hôm sau.

 Sau 1 ngày chiến đấu, Ban chỉ huy Đại đội tiến hành họp rút kinh nghiệm, dự kiến tình hình và bổ sung nhiệm vụ cho các đơn vị như sau:

Tình huống thứ nhất : Nếu 2 cánh quân của địch hợp điểm lại vùng ruộng Dưới để  tiến công ta vào phá hoại hoa màu thì nhiệm vụ của Trung đội 2 phải quyết tâm bám đánh địch tới cùng, không cho chúng thực hiện ý đồ trên.

Tình huống thứ 2 : Nếu địch ở hướng sông Chó Mo rút thẳng xuống suối Ngang để gặp cánh quân từ An Xuân lên rồi cùng rút khỏi căn cứ thì Trung đội I nhanh chóng khẩn trương truy kích đánh chia cắt địch ra từng bộ phận để tiêu diệt.

Ngày thứ 2 : Sáng ngày 29/9, không theo dự đoán của ta, cánh quân của địch sông Chó Mo không đi xuống suối Ngang mà lại cắt ngược lên điểm cao 424, rồi men theo sườn đồi kéo nhau về hướng Suối Thị - Đồng Mé để ra đường 11.

Khoảng hơn 7 giờ, bộ phận trinh sát báo cáo phát hiện đội hình địch đang đi chuyển trên sườn đồi của điểm cao 424 về hướng đường 11. Nhận được tình hình trên, đồng chí đại đội trưởng giao nhiệm vụ cho 2 trung đội cụ thể : Trung đội 1 khẩn trương tổ chức lực lượng truy kích địch. Trung đội 2 nhanh chóng cơ động qua đèo Da Bò chặn đầu, chia cắt lực lượng địch ra từng bộ phận để tiêu diệt.

Trong lúc các Trung đội bộ binh đang chỉ huy bộ đội cơ động theo nhiệm vụ được giao. Khoảng 9 giờ sáng, tổ súng máy số 1 phát hiện đội hình địch đang đi về Suối Thị đã nhanh chóng cơ động chặn đầu, bắn vào đội hình địch. Bị đánh bất ngờ và tổn thất khá nhiều, địch bị rối loại đội hình, tuy nhiên sau đó chúng đã củng cố lại lực lượng và tổ chức đánh trả. Tổ súng máy của ta bị hy sinh 2 đồng chí, cùng lúc đó, tổ súng máy số 2 vừa vận động đến tiếp tục nổ súng đánh địch. Chúng bán trả quyết liệt, sau đó vừa bắn vừa chạy về Suối Thị. Tổ súng máy tiếp tục cắt rừng chặn đầu địch để đánh và cứ lập đi, lập lại cách đánh này đến 13 giờ bọn địch còn lại chạy thoát.

Trung đội 2 theo nhiệm vụ vận động cắt rừng vượt qua đèo Da Bò đến Suối Thị, phát hiện địch đang đặt súng đạn, ba lô để đào giếng tìm nước uống. Đồng chí Trung đội trưởng bổ sung phương án tập kích địch, sử dụng 2 trung liên và các loại vũ khí được trang bị bí mật tiếp cận, bất ngờ nổ súng tiêu diệt địch. Chúng bỏ chạy tán loạn về hướng quốc lộ 11, gần làng Tân Mỹ. Sau đó đơn vị rút về lại Suối Thị giải quyết thương binh, tử sĩ và thu chiến lợi phẩm.

2. Kết quả :

Ta đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn “Ngự lâm quân” của địch, bẻ gãy hoàn toàn cuộc càn quét của địch vào căn cứ Hóc Ron; diệt và làm bị thương 130 tên, thu 2 tiểu liên báng xếp, 8 súng trường và nhiều đạn, quân trang, quân dụng. Ta hy sinh 3 đồng chí.

3. Ý nghĩa trận đánh :

Chiến thắng của Đại đội 210 trong trận đánh càn ở Hóc Ron mang một ý nghĩa hết sức quan trọng đó là :

Bảo vệ an toàn khu căn cứ, làm cơ sở xây dựng khu căn cứ ngày càng vững chắc. Đồng thời đánh bại ý đồ của địch hòng tiêu diệt phong trào cũng như cơ sở Cách mạng của ta.

Tạo niềm tin và tinh thần phấn khởi trong nhân dân đối với lực lượng vũ trang trong tỉnh.

IV. Ưu, khuyết điểm kinh nghiệm:

1. Ưu điểm :

Cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần khắc phục mọi khó khăn, ý chí chiến đấu dũng cảm, kiên cường phát huy tốt tính linh hoạt, sáng tạo nhiều cách đánh phù hợp với các địa hình khác nhau. Trong suốt quá trình chiến đấu đã phát huy được thế mạnh của quân đội nhỏ, liên tục bám địch để đánh, đạt hiệu quả chiến đấu cao.

Tổ chức chỉ huy, chỉ đạo sâu sát, kịp thời phát hiện được chỗ yếu của địch, đồng thời phát huy tốt thế mạnh của ta.

Công tác chuẩn bị chiến đấu tốt, từ khâu xây dựng ý chí quyết tâm cho bộ đội, trong hiệp đồng chiến đấu và bảo đảm vật chất trang bị.

2. Khuyết điểm:

Bên cạnh những ưu điểm trên, lực lượng ta còn thiếu chủ động liên tục tấn công. Suốt cả thời gian chiến đấu cả ngày lẫn đêm, có bộ phận không nổ súng đánh địch lần nào như bộ phận chặn địch ở Suối Ngang dù rằng địch cách ta chỉ 500 mét và tạm dừng ở đây suốt đêm, nhưng ta không tổ chức lực lượng tập kích.

3. Kinh nghiệm :

Từ thực tế tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến đấu rút ra những kinh nghiệm sau:

Phải nắm chắc đối tượng âm mưu và thủ đoạn tác chiến của địch là 1 trong nhửng yếu tố quan trọng để ta bố trí lực lượng thực hành chiến đấu đạt hiệu quả.

Trong chiến đấu chống càn phải có quyết tâm cao, luôn lấy tư tưởng tấn công là chủ yếu.

Vận dụng linh hoạt sáng tạo nhiều cách đánh trong quá trình chiến đấu đối với từng tình huống cụ thể.

Trận chống càn Hóc Ron đã có tiếng vang lớn tác động mạnh mẽ đến khí thế đánh giặc của quân và dân tỉnh Ninh Thuận. Bước đầu đã giáng cho tiểu đoàn Ngự lâm quân của chúng một đòn choáng váng đã góp phần phá vở kế hoạch lấn chiếm vùng căn cứ của ta.

Sau thất bại của cuộc càn, từ đó cho đến đình chiến (1954), địch không dám đưa quân tấn công vùng căn cứ của ta trên địa bàn tỉnh.

Các bài khác