Chế Độ:  
 - Đăng Nhập  
 
   Nhân vật và Sự kiện    
Trận Tập Kích Đồn Hậu Sanh Của Đại Đội 1 Phối Hợp Với Đại Đội 4 Và Đơn Vị Đặc Công 311 Tỉnh Đội Ninh Thuận (Đêm 26 rạng ngày 27/6/1966)
Ngày đăng: 02/06/2014
Từ cuối tháng 5/1965, Mỹ tiến hành xây dựng sân bay chiến lược Thành Sơn và Quân cảng Ninh Chữ tại tỉnh Ninh Thuận nhằm phục vụ cho các hoạt động quân sự trên qui mô lớn trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” của chúng. Cuối năm 1965, quân Mỹ và chư hầu tổ chức hệ thống phòng ngự tại Ninh Thuận có trên 2.000 tên, cộng với gần 5.000 quân Ngụy và khoảng hơn 1.000 tên thuộc lực lượng Phòng vệ dân sự tại các địa phương.

            Trước tình hình trên, Thường vụ Khu ủy Khu 6 tổ chức hội nghị bàn chủ trương đánh quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”. Thực hiện Nghị quyết của khu, ủy, tỉnh ủy Ninh Thuận chỉ đạo quân và dân trong tỉnh khẩn trương chuẩn bị thực lực, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, kiên quyết tiến công địch cả về quân sự và chính trị.

Chấp hành chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban chỉ huy quân sự Tỉnh đội giao nhiệm vụ cho Đại đội 1 phối hợp với Trung đội cối 82 của Đại đội 4 và Đại đội đặc công 311 của tỉnh, tổ chức tiến công tiêu diệt đồn lính Bảo An của địch đóng tại ấp Hậu Sanh, để cùng phối hợp với chiến trường toàn tỉnh và quân khu.

I/ Tình hình chung:

1. Địa hình, thời tiết:

a. Địa hình :

Đồn lính Bảo An nằm trên một khu đất trồng bằng phẳng, cách ấp Hậu Sanh khoảng 300 mét về hướng Tây Nam

Hướng Đông giáp đồng lúa rộng lớn và ấp Hậu Sanh. Xa về phía Đông và Đông Bắc khoảng 2 km là đồng lúa và ấp La Chữ, Mông Nhuận và Hữu Đức.

Hướng Nam giáp đồng lúa rộng lớn.

Hướng Tay giáp đồi núi cao, rừng cây rậm rạp, hơi chếch về hướng Tây Nam khoảng 600m là núi tháp Pô – Rô – Mê.

b. Thời tiết :

 Vào tháng 6 hàng năm nơi đây khô hạn, nắng nóng kéo dài, sông suối cạn nước, cây cỏ khô héo trơ trụi.

2. Tình hình địch:

a. Địch tại chỗ:

Đồn Hậu Sanh thường xuyên có 1 Đại đội lính Bảo An với khoảng 70 – 80 tên, có nhiệm vụ án ngữ ngăn chặn đường liên lạc và di chuyển quân của ta từ khu căn cứ (CK7) xuống đồng bằng. Đồn này cũng là chỗ dựa cho địch tổ chức lực lượng đưa quân đi càn quét, đánh phá vùng căn cứ của ta. Trang bị trong đồn quét, đánh phá vùng căn cứ của ta. Trang bị trong đồn gồm : 1 cối 61 ly, 1 Đại liên, nhiều trung liên, Tiểu liên, súng Trường, lựu đạn và máy bộ đàm PRC-10.

Đồn có 3 lô cốt 3 góc được cấu trúc theo hình tam giác cân, một đỉnh quay về hướng  Tây, 2 đỉnh kia ở hướng Nam  và hướng Bắc, xung quanh đều có hệ thống bảo vệ bằng 5 lớp rào kẽm gai và bùng nhùng được giăng theo hình vuông mỗi cạnh 50m. Bên dưới các lớp rào là hệ thống mìn các loại dày đặc, ở 3 góc đồn có 3 lô cốt xây kiên cố, thông nhau bằng các hào chiến đấu : lô cốt chỉ huy nằm giữa đồn cũng được xây kiên cố. Trên nóc lô cốt chỉ huy đắp 1 lớp đất dày bảo vệ, nóc lô cốt ở hướng Tây giăng dày đặc dây kẽm gai.

b. Địch liên quan:

Trong các ấp Hậu Sanh, La Chữ, Mông Nhuận, Hữu Đức mỗi ấp thường xuyên có khoảng 25-30 tên dân vệ, trang bị súng Tiểu liên, súng Trường, lựu đạn, máy bộ đàm PRC – 10. Riêng ấp Hậu Sanh có 1 lô cốt, xung quanh các ấp đều có hào chiến đấu.

Tóm lại : Địch trong đồn Hậu Sanh có quân số đông, trang bị vũ khí và hỏa lực mạnh, hệ thống công sự vững chắc: nhưng bất lợi cho chúng là đồn nằm đơn độc trên khu đất trống, bằng phẳng, ta có thể lợi dụng điểm cao phía Tây lập đài quan sát, để nắm mọi hoạt động của chúng và xây dựng phương án phù hợp tiến công địch. Lực lượng dân vệ ở các ấp xung quanh tuy đông nhưng không có tinh thần chiến đấu, khó có khả năng ứng cứu khi đồng Hậu Sanh bị ta tấn công.

3. Tình hình ta:

 Lực lượng của ta trực tiếp đánh địch trong đồn Hậu Sanh gồm có: Đại đội bộ binh 1; tăng cường 15 chiến sĩ Đặc công đơn vị 311 và trung đội cối 82mm (2 khẩu) của Đại đội 4 tỉnh đội. Cán bộ, chiến sĩ đều có tinh thần dũng cảm, xác định tốt nhiệm vụ, kiên quyết đánh địch, có kinh nghiệm đánh đồn, đánh ấp, đánh địch càn quét. Tổng quân số tham gia trận đánh là 74 đồng chí.

II. Tổ chức chuẩn bị chiến đấu:

1. Chủ trương của trên và nhiệm vụ của các đơn vị:

Tỉnh đội Ninh Thuận giao nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc quyền là Đại đội 1, Đại đội 4 và đơn vị Đặc công 311 cùng phối hợp đánh tiêu diệt đại đội lính Bảo An địch đóng trong đồn tại ấp Hậu Sanh. Thực hiện chủ trương của quân khu và tỉnh ủy Ninh Thuận quyết tâm tiến công địch cả về quân sự và chính trị, gây tâm lý hoang mang, dao động cho địch, thu vũ khí của địch về trang bị cho ta, rút kinh nghiệm cho các trận đánh kế tiếp, hỗ trợ cho phong trào quần chúng vùng lên đấu tranh chính trị trên địa bàn tỉnh.

2. Công tác chuẩn bị:

Sau khi quán triệt chủ trương và nhận nhiệm vụ trên giao. Ban chỉ huy chung của các đơn vị trực tiếp tham gia trận đánh, tổ chức cử cán bộ đi điều nghiên chuẩn bị chiến trường, đồng thời lập đài quan sát trên điểm cao ở phía Tây đồn địch. Sau đó, lên kế hoạch tác chiến, lập sa bàn để thục luyện, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các bộ phận; làm công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị, xác định mục đích, yêu cầu trận đánh, phát động thi đua trước khi vào trận đánh.

3. Quyết tâm chiến đấu:

a. Ý định chiến đấu :

- Hướng chủ yếu : Hướng Tây

- Hướng thứ yếu 1: hướng Đông Nam

- Hướng thứ yếu 2 : Hướng Đông Bắc.

b. Cách đánh :

 Bằng chiến thuật tập kích, bí mật, khắc phục vật cản, áp sát mục tiêu, đặt chất nổ vào 3 lô cốt ở 3 góc đồn, khi có lệnh đồng loạt nổ điểm hỏa, tập trung binh hỏa lực nổ súng tiến công tiêu diệt địch, chiếm các lô cốt chỉ huy, làm chủ trận địa, bắt sốgn tù binh, thu vũ khí và chiến lợi phẩm. Các đơn vị ở vòng ngoài sẵn sàng đánh địch chi viện từ ấp Hậu Sanh, trung đội cối 82 mm từ điểm cao phía Tây bắn chế áp các hướng Đông Bắc, Đông Nam theo hiệp đồng, ngăn chặn địch từ các ấp xung quanh ra tiếp cứu.

c. Sử dụng lực lượng, bố trí đội hình:

Ban chỉ huy trận đánh thống nhất chia lực lượng thành 3 mũi và 5 bộ phận như sau:

Mũi 1 : (trên hướng chủ yếu): Do đồng chí Mũi trưởng đặc công 311 chỉ huy. Gồm có 6 đồng chí (có 3 chiến sĩ đặc công), trang bị 6 súng AK, 3 quả bộc phá loại 2 kg, 2 quả thủ pháo dù, 12 quả thủ pháo lựu đạn, 2 kéo cắt rào, 2 đèn pin, có nhiệm vụ đánh vào lô cốt phía Tây đồn (lô cốt 1).

Mũi 2: (trên hướng thứ yếu 1): Do đồng chí Mũi phó Đặc công 311 chỉ huy. Gồm có 6 đồng chí (có 3 chiến sĩ đặc công), trang bị 6 súng AK, 3 quả bộc phá loại 2kg, 2 quả thủ pháo dù, 12 quả thủ pháo lựu đạn, 2 kéo cắt rào, 2 đèn pin, có nhiệm vụ đánh vào lô cốt phía Đông Nam đồn (lô cốt 2).

Mũi 3: (Trên hướng thứ yếu 2): Do đồng chí Trung đội trưởng Đại đội 1 chỉ huy. Gồm có 6 đồng chí (có 3 chiến sĩ đặc công), trang bị 6 súng AK, 3 quả bộc phá loại 2 kg, 2 quả thủ pháo dù, 12 quả thủ pháo lựu đạn, 2 kéo cắt rào, 2 đèn pin, có nhiệm vụ đánh vào lô cốt phía Đông Bắc đồn (lô cốt 3).

Bộ phận đánh chặn địch rút chạy và chi viện : Do đồng chí Trung đội trưởng Đại đội 1 chỉ huy. Gồm có 10 đồng chí, trang bị 1 khẩu Trung liên, 8 súng AK; có nhiệm vụ phục kích bên ngoài đồn về hướng Đông, sẵn sàng đánh địch rút chạy từ đồn ra và đón đánh địch từ ấp Hậu Sanh chi viện trên hướng này.

Trung đội cố 82mm: Do đồng chí Trung đội trưởng cối 82mm thuộc Đại đội 4 chỉ huy. Gồm có 15 đồng chí, trang bị 2 khẩu Trung liên, 8 súng AK; có nhiệm vụ lợi duụng điểm cao ở núi tháp Pôrômê phía Tây đồn (chếch về phía Bắc cách vị trí bộ phận chỉ huy trận đánh khoảng 100m) bắn vào các điểm cách xa đồn khoảng 300m về hướng Đông Bắc và Đông Nam ngăn chặn địch từ các ấp xung quanh ra chi viện và tiêu diệt địch trên các hướng này.

Bộ phận dự bị : Do đồng chí chỉ huy trưởng trận đánh trực tiếp chỉ huy ở tại vị trí chỉ huy. Gồm có 10 đồng chí, trang bị 10 súng Ak, 2 quả bộc phá loại 2 kg, có nhiệm vụ sẵn sàng tăng cường các hướng, các mũi và làm nhiệm vụ đưa thương binh, liệt sĩ về phía sau.

Bộ phận tải thương: Quân số 10 đồng chí, nằm cách vị trí chỉ huy khoảng 100m về phía sau, sẵn sàng chờ lệnh.

Bộ phận chỉ huy: Quân số 11 đồng chí (gồm có Ban chỉ huy trận đánh, 3 chiến sĩ đặc công 311, các chiến sĩ liên lạc, thông tin), ở vị trí chỉ huy cách hơn 50m về phía Tây đồn, khoảng giữa lô cốt 1 và lô cốt 2.

4. Tổ chức hiệp đồng, công tác bảo đảm:

a. Công tác hiệp đồng :

- Các mũi, các bộ phận kiểm tra rà soát lại công tác chuẩn bị về lực lượng quân số, trang bị vũ khí gọn nhẹ theo kế hoạch chung.

- Sau khi bí mật vượt cửa mở, các mũi nhanh chóng áp sát mục tiêu, đặt bộc phá vào các lô cốt trên hướng tiến công, sẵn sàng chờ lệnh.

- Đến giờ G mũi 1 điểm hỏa cho bộc phá nổ, trước ở lô cốt 1, cũng là hiệu lệnh cho toàn trận đánh các mũi 2 và 3 đồng loạt cho nổ bộc phá ở các lô cố 2 và 3. Khi các lô cốt tiêu diệt xong, thì các mũi nhanh chóng phát triển đội hình đánh chiếm đoạn chiến hào mỗi bên lô cốt mà bộ phận mình đảm nhiệm. Sau khi bắn liên tục được với nhau, mỗi mũi để lại 2 đồng chí cảnh giới. Số còn lại tiếp tục triển khai đội hình tiêu diệt địch trong lô cốt chỉ huy và trong đồn.

- Khi nghe hiệu lệnh chiến đấu, Trung đội cối 82 mm bắt đầu bắn theo hướng và vị trí đã hiệp đổng ở cự ly thích hợp, tránh gây thương vong cho quân ta đang đánh địch trong đồn.

- Các mũi nhanh chóng tiêu diệt địch trong đồn, làm chủ trận địa, bắt tù binh, thu vũ khí, chiến lợi phẩm, tổ chức đội hình chuẩn bị đánh địch phản kích, khi đơn vị rời khỏi đồn được 10 phút thì 10 đồng chí này phải nhanh chóng rời khỏi đồn về lại đơn vị.

- Ám tín hiệu chiến đấu ban đêm trong đồn : Toàn bộ các đồng chí trực tiếp chiến đấu trong đồn đều không mặc áo. Hỏi 1 trả lời 3; đi lạc tìm nhau thì làm tiếng động cộng 4.

b. Công tác bảo đảm:

- Cử cán bộ đi trinh sát thực địa, điều nghiên chuẩn bị chiến trường, đồng thời lập đài quan sát ở điểm cao phía Tây đồn bám nắm tình hình địch.

- Lập sa bàn tổ chức luyện tập cho chuẩn thục.

- Chuẩn bị lực lượng quân số, vũ khí trang bị của các mũi, các bộ phận; thống nhất hiệp đồng chặt chẽ, rà soát công tác bảo đảm.

5. Tổ chức chỉ huy:

- Vị trí chỉ huy: ở điểm cao cách lô cốt phía Tây đồn Hậu Sanh khoảng 50m về hướng Tây (khoảng giữa lô cốt 1 và 2). Đây cũng là vị trí của bộ phận dự bị.

- Ban chỉ huy chung : đồng chí Đại đội trưởng đại đội 1 làm chỉ huy trưởng, và đồng chí Chính trị viên trưởng đại đội 1 làm chính trị viên trận đánh.

6. Các mốc thời gian:

- 15h00 ngày 26-6-1966: Hoàn tất công tác chuẩn bị.

- 17h00: Đơn vị bắt đầu hành quân từ vùng 3 Thuận Nam (giáp khu vực hồ Đà Máng CK7) đến vị trí tập kết cuối cùng.

- 20h00 : Đơn vị đến vị trí tập kết cuối cùng ở điểm cao phía Tây đồn Hậu Sanh. Ban chỉ huy trận đánh nghe chiến sĩ ở đài quan sát báo cáo tình hình địch trong đồn, sau đó bàn bạc thống nhất đánh địch.

- 22h00 : Các mũi, các bộ phận, triển khai đội hình chiến đấu theo kế hoạch.

- 01h00 ngày 27-6-1966: Mũi chủ yếu bắt đầu điểm hỏa bộc phá tiêu diệt lô cốt 1 làm hiệu lệnh tiến công cho toàn trận đánh.

7. Dự kiến tình huống :

Người thay thế chỉ huy trận đánh :

+ Dự kiến 1 : Mũi trưởng mũi 1

+ Dự kiến 2 : Mũi trưởng mũi 2

III. Diễn biến, kết quả, ý nghĩa trận đánh :

1. Diễn biến chiến đấu :

a. Nổ súng tiến công :

- Đúng 1h00 ngày 27-6-1966 mũi chủ yếu bắt đầu điểm hỏa khối bộc phá đánh sập lô cốt 1 trên hướng Tây. Tiếp đó, các mũi thứ yếu 1 và 2 đồng loạt điểm hỏa các khối bộc phá đều đánh sập các lô cốt số 2 và 3 trên hướng Tây Nam và Đông Bắc.

- Các mũi trên các hướng đồng loạt xung phong vào các vị trí đã phân công. Các mũi sau khi đánh chiếm lô cốt ở hướng mình đảm nhận, liền đánh phát triển ra 2 bên giao thông hào của lô cốt và liên lạc với nhau tại điểm giữa mỗi giao thông hào. Báo cáo về vị trí chỉ huy. Tiếp đó mỗi mũi để lại 2 đồng chí giữ lô cốt, số còn lại phát triển đánh chiếm lô cốt chỉ huy và tiếp tục truy kích tiêu diệt địch, thu vũ khí và chiến lợi phẩm.

- Ngay sau khi các mũi điểm hỏa bộc phá đánh sập các lô cốt, bộ phận cối 82mm bắt đầu bắn về hướng Đông Nam và Đông Bắc cách đồn khoảng 300m. Đồng thời, bộ phận đánh địch rút chạy ở hướng Đông đồn cũng nổ súng tiêu diệt địch ở hướng này.

Trước khi bước vào trận đánh, chỉ huy đơn vị đã thực hiện khá tốt công tác chuẩn bị chiến trường, nên nắm được qui luật hoạt động của địch tại chỗ và địch liên qua, từ đó sử dụng lực lượng tiến công địch trong đồn và chặn địch rút chạy hoặc địch chi viện ứng cứu rất phù hợp. Nếu các tình huống địch cho quân từ ấp Hậu Sanh hay ấp La Chữ ra chi viện ta vẫn đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ trận đánh.

Trong trận đánh này ta có 3 đơn vị tham gia. Đại đội 1, Đại đội 4 và đơn vị Đặc công 311, nhưng đã hợp đồng chặt chẽ trong chiến đấu. Nhờ vậy khi ta tiến công địch không kịp đối phó dẫn đến bị tiêu diệt trong thời gian rất ngắn.

Kết luận :

Trận đánh đồn Hậu Sanh thắng lợi đã làm cho tinh thần quân địch hoang mang dao động mạnh không giám đóng đồn tại khu vực này nữa. Mở con đường tiến quân của ta từ khu căn cứ (CK7) xuống đồng bằng. Góp phần cùng lực lượng vũ trang của tỉnh tháo gỡ cái gọi là “áo giáp” vòng ngoài của địch.

 

Một số trận chiến đấu điển hình của lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Ninh Thuận (1945 – 1975). Ninh Thuận: Nxb. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Ninh Thuận; 19cm.

Các bài khác