Chế Độ:  
 - Đăng Nhập  
 
   Thiếu nhi    
Chương trình phát thanh kỳ III tháng 7/2012
Ngày đăng: 19/07/2012

 

Chương trình phát thanh kỳ III tháng 7/2012

 

Phát ngày: 18/7/2012

 

1.Thiếu niên nhi đồng tìm hiểu tấm lòng của Bác Hồ với thương binh liệt sĩ

Các bạn thiếu niên nhi đồng thân mến!

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn ngàn năm lịch sử. Tình cảm của Bác với đồng bào, đồng chí, với nhân loại thật bao la mênh mông và đặc biệt Bác rất quan tâm đến các thương binh liệt sĩ, những người đã hy sinh xương máu và cả cuộc đời mình để đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Mở đầu chương trình phát thanh hôm nay, CLBBĐ sẽ cùng các bạn tìm hiểu tấm lòng của Bác với thương binh liệt sĩ như thế nào. Bây giờ mời các bạn cùng theo dõi!

Ngày 10 tháng 3 năm 1946, báo Cứu quốc đăng thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Nam Bộ. Trong thư có đoạn, Nguời viết: “Tôi xin kính khẩn cúi chào vong linh các anh chị em bỏ thân vì nước và các đồng bào hy sinh trong cuộc đấu tranh cho nước nhà. Sự hy sinh đó không phải là uổng”.

Tiếp sau đó, trong thư gửi đồng bào miền Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh”.

Hơn nửa tháng sau khi đi Pháp về, ngày 7 tháng 11 năm 1946, Người đã đến dự lễ “Mùa đông binh sĩ” do Hội liên hiệp Quốc dân Việt Nam tổ chức tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, vận động đồng bào ở hậu phương đóng góp tiền của để may áo trấn thủ cho chiến sĩ, thương binh, bệnh binh.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã thu hút nhiều thanh niên nam nữ tham gia quân đội. Một số chiến sĩ đã hy sinh anh dũng, một số nữa là thương binh, bệnh binh, đời sống gặp nhiều khó khăn mặc dầu anh chị em tình nguyện chiu đựng không kêu ca, phàn nàn.

Trước tình hình ấy, tháng 6 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ chọn một ngày nào đó trong năm làm “Ngày thương binh” để đồng bào ta có dịp bày tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh. Có lẽ- trừ những ngày kỷ niệm quốc tế - “ Ngày Thương binh” là ngày kỷ niệm trong nước đầu tiên được tổ chức.

Hưởng ứng và đáp lại tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hội nghị trù bị đã khai mạc tại xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gồm có một số đại biểu ở Trung ương, khu và tỉnh. Hội nghị nhất trí lấy ngày 27 tháng 7 hàng năm là Ngày Thương binh Liệt sĩ và tổ chức ngay lần đầu trong năm 1947.

Báo Vệ quốc quân số 11, ra ngày 27 tháng 7 năm 1947 đã đăng thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thường trực Ban tổ chức “ Ngày Thương binh toàn quốc”. Đầu thư Người viết: “ Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sĩ mà nay một số đã thành ra thương binh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: “ thương binh là người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt.

Vì vậy, Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.

Cuối thư, Người vận động đồng bào nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ thương binh. Bản thân Người đã xung phong góp chiếc áo lụa, một tháng lương và tiền ăn một bữa của Người và của tất cả các nhân viên của Phủ Chủ tịch, tổng cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng để tặng thương binh.

Năm sau, ngày 27 tháng 7 năm 1948, trong một thư dài đầy tình  thương yêu, Bác nói: “ Khi nạn ngoại xâm ào ạt đến, nó đến như một trận lụt to. Nó đe dọa tràn ngập cả non sông Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản, chìm đắm cả bố, mẹ, vợ con, dân ta.

Trước cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta dũng cảm xông ra mặt trận. Họ quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững, để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào”.

Người xót xa viết: “ Họ quyết liều chết chống địch, để cho Tổ quốc và đồng bào sống…Ngày nay, bố mẹ họ đã mất một người con yêu quý. Vợ trẻ trở nên bà góa. Con dại trở nên mồ côi. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ…Nhưng tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được. Và những tử sĩ sẽ không thể tái sinh”.

2. Giới thiệu gương Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thị Cam

Anh hùng Nguyễn Thị Cam, sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê xã Gio Thành, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, trong khu vực vĩ tuyến 17. Những năm thơ ấu, thực dân Pháp và tay sai liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, lập tề, xây dựng đồn bốt, đóng chốt hầu hết các tuyến giao thông thủy bộ trên quê hương của chị. Mặc dù vậy phong trào kháng chiến vẫn phát triển. Trong ký ức tuổi thơ của chị, còn đọng mãi hình ảnh quê hương tràn ngập cờ sau ngày Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. 
Với bản chất phản động, Mỹ-Diệm đã trắng trợn chà đạp lên công ước quốc tế, không những không tổ chức tổng tuyển cử mà còn tiến hành khủng bố lực lượng kháng chiến. Sau khi xây dựng được chính quyền phản động thân Mỹ từ trung ương đến cơ sở hòng chia cắt lâu dài đất nước ta, Mỹ–Diệm điên cuồng phản kích, dìm cách mạng miền Nam trong biển máu. Ở xã Gio Thành, địch tiến hành các đợt tố cộng đẫm máu. Cảnh chúng lùng sục, bắn giết, tra tấn cán bộ, đảng viên diễn ra hằng ngày, như chà vôi, xát ớt đã khắc ghi vào lòng Nguyễn Thị Cam. Căm thù bọn địch dã man, chị nung nấu trong tim nguyện ước được đi chiến đấu để đuổi sạch quân thù, giải phóng quê hương.

Tháng 1-1966, Nguyễn Thị Cam tròn 18 tuổi và đạt được mơ ước của mình là gia nhập đội du kích xã Gio Thành. Thời gian này, quân Mỹ bắt đầu ồ ạt kéo vào miền Nam, thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Chúng xây dựng hệ thống căn cứ Mỹ từ Cửa Việt, Đông Hà đến Làng Vây, xây “hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra”, ngày đêm tuần tra, phục kích lực lượng ta đi lại hoạt động. Địch còn dùng chất độc hóa học, bom xăng đốt phá, thiêu hủy từng lá cây, ngọn cỏ. Từ tháng 5 đến tháng 12-1967, địch đã san bằng hầu hết huyện Gio Linh. Đại bộ phận nhân dân bị dồn vào các trại tập trung lớn bị thiếu đói, ốm đau, kẻ địch liên tiếp thanh lọc, khủng bố, hàng trăm người đã chết. Quần chúng vô cùng căm phẫn.

Vốn thông minh, nhanh nhẹn, Nguyễn Thị Cam được cử vào đội công tác mật, thực hiện nhiệm vụ củng cố lại hệ thống hoạt động mật trong khu tập trung, hướng dẫn quần chúng đấu tranh, đòi địch giải quyết đời sống, đòi địch bồi thường thiệt hại. Dũng cảm trong chiến đấu, khôn khéo trong công tác vận động quần chúng nên chị đã được kết nạp vào Đảng. Cuối năm 1969, chị được giao làm xã đội phó xã Gio Thành, trực tiếp chỉ huy trung đội du kích mật.

Chị đã cùng anh chị em du kích sống, chiến đấu, bám trụ trên vành đai trắng, sát “hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra”, sáng tạo nhiều cách đánh địch có hiệu quả cao. Bất kể ngày hay đêm, khi có thời cơ, đội du kích của chị lại bày trận, ra đòn với địch. Đội đã liên tục tiến công, vây ép, bắn tỉa, phóng bom, cài mìn, gây cho địch nhiều thiệt hại. Riêng chị đã trực tiếp đánh 48 trận lớn, nhỏ, diệt 31 tên địch (có 22 tên Mỹ), bắn cháy 4 xe tăng. Tháng 3-1968, ở Lâm Xuân, Nhí Hạ, đơn vị Nguyễn Thị Cam phối hợp với bộ đội đoàn Sông Dinh diệt gọn toàn bộ đoàn xe 22 chiếc của địch. Đơn vị của chị đã tham gia chiến đấu, lập công xuất sắc trong cuộc Tổng tiến công Xuân 1968, tham gia đập tan cuộc hành quân càn quét quy mô lớn mang tên “Lam Sơn 719” của địch ở đường 9-Nam Lào. Trong hội nghị tổng kết thi đua của đơn vị các năm 1969, 1970, 1971, chị đều được bình bầu là Chiến sĩ thi đua.

Ngày 14-2-1972, tổ công tác năm người của chị có nhiệm vụ đột nhập vào khu tập trung dân ở Cửa Việt để chúc Tết đồng bào và cắm cờ Mặt trận giải phóng vào sáng mùng một Tết, gây khí thế cho nhân dân, chuẩn bị phát động quần chúng chống phá bình định, giải phóng tỉnh Quảng Trị vào cuối tháng 3 năm 1972. Trên đường đi, tổ của Nguyễn Thị Cam lọt vào ổ phục kích của một thiết đoàn xe tăng và một đại đội bảo an địch. Dưới sự chỉ huy của chị, toàn tổ vừa chiến đấu vừa rút lui. Ba người rút an toàn, một người trúng đạn hy sinh, còn một mình chị Cam trên bãi cát rộng. Địch cho xe tăng và xe bọc thép cùng bộ binh vây bắt. Chúng dùng loa kêu gọi chị đầu hàng. Tranh thủ thời cơ, chị Cam cắm lá cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam lên cồn cát cao. Địch tưởng chị đầu hàng, ào lên bắt sống. Chị Cam bình tĩnh đợi địch đến gần, nã đạn vào đội hình địch, diệt hai tên và hô lớn: “Con Cam này chỉ biết đánh, không biết đầu hàng”. Biết không thể bắt được chị, quân địch dùng xe tăng, xe bọc thép lao vào đè nát chị. Nguyễn Thị Cam tung liên tiếp hai quả lựu đạn vào xe địch. Bọn chúng tức tối nghiền nát thi thể của chị.

Gương hy sinh của Nguyễn Thị Cam đã được nhân dân truyền tụng, kẻ thù kinh hoàng, thán phục. Năm đó chị mới tròn 24 tuổi.   6 năm hoạt động cách mạng, chị Nguyễn Thị Cam đã được tặng thưởng 3 huân chương Chiến công hạng ba, 4 danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", 4 danh hiệu "Dũng sĩ diệt xe cơ giới", được ủy ban nhân dân khu Trị-Thiên-Huế tặng huy hiệu “Tấn công nổi dậy, anh dũng kiên cường”. Ngày 11-6-1999, chị được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Nguồn: HUỲNH THỊ TÁM. TVT
 
   Hoạt động    
 
   Sách thiếu nhi    
 
   Phòng tranh    
 
   CLB-Nhóm    
 
   Thư viện thiếu nhi truyền thanh    
 
 
   Nhóm Handmade    
 
   Nhóm Cờ vua